CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN VĨNH LẠI XỨ ĐÔNG

CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN VĨNH LẠI XỨ ĐÔNG

.

       Cũng giống như nhiều mảnh đất khác thuộc trấn Hải Dương, miền đất đồng bằng nơi đây mang tên huyện Đồng Lợi vào thời Lý – Trần, sau này đến đầu thời Lê sơ (1428 – 1527) kiêng húy đổi thành Đồng Lại, đến thời Quang Thuận (1460 – 1469) thì đổi thành Vĩnh Lại thuộc phủ Hạ Hồng. Thực địa của huyện này gồm 5 tổng bên tả ngạn sông Luộc và 6 tổng bên tả ngạn sông Hóa và hai khu này cách xa nhau chừng gần chục cây số. Đến năm 1822 thì phủ Hạ Hồng đổi thành phủ Ninh Giang và cơ quan phủ kiêm nhiếp huyện Vĩnh Lại. Đến năm 1838 thì nhà Nguyễn cắt 3 tổng Thượng Am, Đông Am và Ngải Am của huyện Vĩnh Lại và 5 tổng của huyện Tứ Kỳ để thành lập huyện thứ 19 của tỉnh Hải Dương mang tên Vĩnh Bảo. Sau này vào cuối thế kỷ XIX cắt nốt 3 tổng bên tả ngạn sông Hóa cho huyện Vĩnh Bảo nữa. Chính vì lý do này mà thời nay bia đá Tiến sỹ tại Văn Miếu Mao Điền bị mắc khá nhiều lỗi, nhiều Tiến sỹ Nho học của huyện Vĩnh Bảo lại ghi của huyện Ninh Giang hay Tứ Kỳ. Thần sắc năm Khải Định thứ 9 (1924) huyện này vẫn ghi Vĩnh Lại. Vì thế cái tên phủ Ninh Giang chỉ được gọi sau thời Khải Định (1925), thời cách mạng là huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương. Sau đây là một số câu ca dao tục ngữ thành ngữ cổ về huyện Vĩnh Lại:

 

1-

Phủ Thượng thành Bình

Phủ Hạ thành Ninh

Hai phủ Nam – Kinh

Giữ nguyên tên cổ

 

       (Câu này ý nói vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), thì phủ Thượng Hồng đổi thành phủ Bình Giang (平江府), có nghĩa là “vùng sông nước êm đềm”. Còn phủ Hạ Hồng đổi thành phủ Ninh Giang (寕江府), có nghĩa là “vùng sông nước an toàn”, chứ ở đây không liên quan gì tới sông “Bình” hay sông “Ninh” nào cả. Còn phủ Nam Sách và phủ Kinh Môn vẫn giữ nguyên tên cũ. Rồi vào năm 1837, thì bốn huyện là Nghi Dương, An Dương, Kim Thành và An Lão được tách từ phủ Kinh Môn để thành lập phủ Kiến Thụy. Sau này tất cả 5 phủ trên trở thành đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, từ 2025 thuộc thành phố Hải Phòng)

 

2-

Trai Vĩnh Lại

Gái Tứ Kỳ

 

       (Thời đầu Nguyễn huyện Vĩnh Lại có 11 tổng với 107 làng, giáp, trang. Tới năm 1890 đã cắt lục tổng phía Đông cho huyện Vĩnh Bảo, còn 5 tổng đó là: Bất Bế; Bồ Dương; Văn Hội; Xuyên Hử và Đông Cao. Đầu thế kỷ XX, thì huyện này có 8 tổng gồm: Bất Bế; Bồ Dương; Văn Hội; Xuyên Hử; Đà Phố; Đỗ Xá; Đông Bối và Phùng Xá. Còn huyện Tứ Kỳ có 13 tổng với 124 làng, giáp, vào năm 1838 thì cắt 5 tổng phía hữu ngạn sông Luộc để thành lập huyện Vĩnh Bảo. Câu này ý nói trai tài gái sắc của hai huyện)

 

3-

Ăn củ khoai Thói

Uống bát nước Giải

 

       (Làng Văn Hội, tên Nôm là Thói, xưa thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Văn Hội, huyện Ninh Giang có giống “khoai tiến vua” rất ngon. Còn làng Phù Tải, tên Nôm là Giải, xưa thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, cùng tỉnh Hải Dương có chè xanh khá đặc sắc. Còn nhiều nhà báo thời nay viết là làng Thới là chưa đúng tên cổ)

 

4-

Chơi với dân Vĩnh Lại

Chẳng mất dái cũng mất cu

 

     (Vĩnh Lại gồm 5 tổng bên tả ngạn sông Luộc, sau này là huyện Ninh Giang, Hải Dương và lục tổng bên tả ngạn sông Hóa, sau này là nửa dưới của Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

 

5-

Lấy vợ làng Bói

Chưa chắc con mình

Lấy vợ làng Chiềng

Chẳng cần lo lắng?

 

     (Làng Bối Giang, tên Nôm là Bói, xưa thuộc tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, sau này phát triển thành Bắc Bối, Nam Bối, Đông Bối và Tây Bối đầu thế kỷ XX thuộc tổng Đông Bối hay gọi tổng Bói, thời nay thuộc xã Tân Hương, huyện Ninh Giang. Con gái thường làm nghề buôn bán có thói trăng hoa. Còn làng Trịnh Xuyên, tên Nôm là Chiềng, xưa thuộc tổng Đỗ Xá (Đọ) cùng huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Nghĩa An, huyện Ninh Giang)

 

6-

Ăn đất Bói

Nói đất Mét

 

     (Làng Bối Giang, tên Nôm là Bói, xưa thuộc tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, sau này phát triển thành Bắc Bối, Nam Bối, Đông Bối và Tây Bối đầu thế kỷ XX thuộc tổng Đông Bối hay gọi tổng Bói, thời nay thuộc xã Tân Hương, huyện Ninh Giang. Còn trang Úm Mạt, tên Nôm là Mét, thời Mạc là làng Cổ Am, tổng Đông Am, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Từ 07/2025 thì tỉnh Hải Dương thuộc thành phố Hải Phòng)

 

7-

Trai Phù Tải, gái Cổ Am

Thà rằng chẳng biết cho cam

Biết rồi kẻ Bắc người Nam thêm rầu?

 

     (Làng Phù Tải, tên Nôm là Giải, xưa thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Còn làng Cổ Am, tên Nôm là Mét, xưa thuộc tổng Đông Am, huyện Vĩnh Lại, thời cách mạng thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Từ 07/2025 hai địa danh trên cùng thuộc thành phố Hải Phòng)

 

8-

Tham ăn vào Chiềng

Tham tiền vào Bói

Chết đói vào Thì Ung

 

       (Làng Trịnh Xuyên, tên Nôm là Chiềng, xưa thuộc tổng Đỗ Xá (Đọ) cùng huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Nghĩa An, huyện Ninh Giang 3 làng trên đều thuộc huyện Ninh Giang. Làng Bối Giang, tên Nôm là Bói, xưa thuộc tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, sau này phát triển thành Bắc Bối, Nam Bối, Đông Bối và Tây Bối đầu thế kỷ XX thuộc tổng Đông Bối hay gọi tổng Bói, thời nay thuộc xã Tân Hương, huyện Ninh Giang. Làng Thì Ung, thời Tự Đức (1848) đổi thành Hòa Ung, xưa thuộc tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã An Đức huyện Ninh Giang)

 

9-

Về chợ

Ghé mua thịt trâu

 

     (Làng Bất Bế, tên Nôm là Vé, xưa thuộc tổng Bất Bế (Vé), huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang)

 

10-

Tơ tằm làng Vé

Trâu nghé làng Chanh

Cam sành làng Hóp

 

       (Làng Bất Bế, tên Nôm là Vé, xưa thuộc tổng Bất Bế (Vé), huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, xưa có nghề dệt vải khá nổi tiếng. Làng Tranh Xuyên, tên Nôm là Chanh, xưa thuộc tổng Bất Bế (Vé), huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Tranh Xuyên, huyện Ninh Giang, xưa chợ bán trâu bò ở gọc tả ngạn sông Luộc và hữu ngạn sông Hà Lộ, gần bến đò Hới. Làng Lực Đáp, tên Nôm là Hóp, xưa thuộc tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại có giống cam rất ngon, thời nay thuộc xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang)

 

11-

Lắm tiền làng Ngọc

Lắm thóc làng Chuông

 

       (Trang Ngọc Điều, gọi tắt là Ngọc, tên Nôm là Gièo, xưa thuộc tổng Bồ Dương, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh Giang. Còn làng Hữu Chung, tên Nôm là Chuông, xưa thuộc tổng Xuyên Hử, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Tân Phong, huyện Ninh Giang)

 

12-

Ăn làng Bói

Nói Lang Viên

 

       (Làng Bối Giang, tên Nôm là Bói, xưa thuộc tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, sau này phát triển thành Bắc Bối, Nam Bối, Đông Bối và Tây Bối đầu thế kỷ XX thuộc tổng Đông Bối hay gọi tổng Bói, thời nay thuộc xã Tân Hương, huyện Ninh Giang rất khéo léo ở nết ăn. Còn nói năng thì làng Lang Viên, xưa thuộc tổng Bất Bế rất khéo và ngày nay thuộc xã Hồng Du, huyện Ninh Giang)

 

13-

Muốn ăn cơm trắng cá khoai

Về Ninh Giang gói bánh gai cùng mình

Muốn ăn cơm trắng cá chình

Thì về quê mình gói bánh lá gai?

 

       (Cái tên Ninh Giang có từ đầu thế kỷ XIX, còn việc sản xuất bánh gai (nguyên liệu chính là lá gai) có từ bao giờ thì chưa ai rõ. Đây là một đặc sản của huyện Ninh Giang)

 

14-

Tiền làng Gièo

Chèo làng Chuông

Buôn làng Bói

 

       (Ngọc Điều trang, tên Nôm là Gièo, xưa thuộc tổng Bồ Dương, đầu thế kỷ XX đổi thành Ngọc Lôi, tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã , huyện Ninh Giang. Làng Hữu Chung, tên Nôm là Chuông, xưa thuộc tổng Xuyên Hử, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Tân Phong, huyện Ninh Giang. Làng Bối Giang, tên Nôm là Bói, xưa thuộc tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, sau này phát triển thành Bắc Bối, Nam Bối, Đông Bối và Tây Bối đầu thế kỷ XX thuộc tổng Đông Bối hay gọi tổng Bói, thời nay thuộc xã Tân Hương, huyện Ninh Giang)

 

15-

Cụ Hới là ông nội bác Chanh

 

       (Câu này nói về hai bến đò là Hới và Chanh. Bến đò làng Hà Hải, tên Nôm là Hới, xưa thuộc tổng Hà Lộ, huyện Tứ Kỳ, ranh giới giữa huyện Ninh Giang và Tứ Kỳ thời nay. Đoạn sông từ ngã ba Chanh (Tranh) đến ngã ba Hải được quân dân nhà Trần đào vào năm 1285, do vậy đò Hới ra đời vào khoảng thời gian đó. Còn bến đò Chanh (Tranh) có từ sau 1909 khi sông Chanh Dương ở huyện Vĩnh Bảo do Tổng đốc Đào Trọng Kỳ thiết kế và chỉ đạo thi công. Theo bản đồ tỉnh Hải Dương năm 1909, thì khúc trên của sông Chanh Dương chưa hoàn thành. Con sông nối tiếp sông Lục (sau 1890 là Luộc, thời Pháp thuộc là kênh Tre) làm ranh giới cho huyện Vĩnh Bảo và tỉnh Thái Bình là Tranh Xuyên, tức sông nhỏ mang tên Tranh, nhưng làng này tên Nôm là Chanh, nên gọi là Tranh hay Chanh đều chấp nhận được và từ năm 1890 trở đi mang tên mới là sông Hóa. Trong đó một số tác giả địa phương ở Hải Dương lại cho rằng sông Tranh là khúc từ ngã ba Tranh đến ngã ba Hải với chừng 1.5 cây số là chưa có căn cứ)

 

16-

Nghề mộc Bồ Dương

Cam đường Thì Ung

Cá đồng Hán Triều

 

       (Làng Bồ Dương, xưa thuộc tổng Bồ Dương, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang có nghề mộc làm đình chùa khá nổi tiếng. Hầu hết các đình chùa ở phủ Hạ Hồng đều do thôn dân làng Bồ Dương thi công. Làng Thì Ung, thời Tự Đức (1848) đổi thành Hòa Ung, xưa thuộc tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã An Đức huyện Ninh Giang. Làng Hán Triền, xưa thuộc tổng Văn Hội, từ đầu thế kỷ XX là Hán Lý thuộc tổng Văn Hội là vũng trũng thấp lại ven sông Luộc, nên có nhiều cá đồng và cá sông)

 

17-

Rượu quê làng Thói

Rối nước làng Bồ

 

       (Làng Văn Hội, tên Nôm là Thói, xưa thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Văn Hội, huyện Ninh Giang có giống “khoai tiến vua” và rượu nấu rất ngon. Còn làng Bồ Dương, gọi tắt là Bồ, xưa thuộc tổng Bồ Dương, huyện Vĩnh Lại, thời nay thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang có nghề mộc lâu đời, những mẩu thừa được chế tác thành con rối và nghề rối nước được hình thành).

 

18-

Thày bói làng Đoài

Trổ tài ra phán:

Ngọc Bến phiêu diêu

Làng Điều bề bộn

Làng Ngọn ngu ngơ

Làng cự phách

Làng Rách uyên thâm

Làng Dầm chấp nhặt

Làng Sặt ăn theo

Làng Gièo kém tài

Tám làng đều sai

Cười đến vỡ bụng?

 

       (Đây là bài vè nói về tên Nôm của các làng thuộc tổng Bồ Dương. Làng An Cúc, tên Nôm là Điều. Làng Cúc Bồ, tên Nôm là Gọc Bến. Làng Lũng Quý tên Nôm là Ngọn. Làng Phác Lỗ, tên Nôm là Sò. Làng Quang Dực, tên Nôm là Rách. Làng Đông Trạch, tên Nôm là Dầm. Làng Tiền Liệt, tên Nôm là Sặt. Trang Ngọc Điều, tên Nôm là Gièo)

 

19-

Làng Ta

Đất xa tình gần

 

       (Có hai giáp trại là Đại Đồng và Chùa Vàng của huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình ở bên tả ngạn sông Luộc, thời nay nằm ở phía Nam xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang. Trường hợp tương tự giống như giáp Đồng Trượng thuộc làng Lô Đông, tổng Oai Nỗ, huyện Vĩnh Bảo, từ 07/2025 thuộc xã Vĩnh Hoà, thành phố Hải Phòng lại nằm hoàn toàn bên hữu ngạn sông Hóa, nhưng lại do Hải Phòng quản lý)

 

20-

Thứ nhất Ngã Ba Tranh

Thứ nhì kênh Lục Vị

 

       (Đền thờ thần Sông khá linh thiêng ở ngã ba sông Tranh (từ năm 1890 là sông Hóa) và sông Lục (từ năm 1890 là sông Luộc, thời pháp thuộc bản đồ người Pháp ghi là kênh Tre. Đây là hai địa danh khá linh thiêng)

.

Còn nữa

NGỌC TÔ (Sưu tầm)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      

Các tin liên quan

Đối tác

Len dau trang
© Copyright © 2018 . All rights reserved