CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN TỨ KỲ XỨ ĐÔNG
CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN TỨ KỲ XỨ ĐÔNG
.
Cũng giống như nhiều mảnh đất khác thuộc trấn Hải Dương, miền đất đồng bằng nơi đây mang tên Tứ Kỳ huyện (四岐縣), tức huyện Tứ Kỳ, có ít nhất từ thời Lý. Hai từ Tứ Kỳ có nghĩa là chỗ rẽ bốn ngả và huyện lỵ lúc đầu nằm ở trang Tứ Kỳ, nên huyện này mang tên Tứ Kỳ, giống như huyện An Dương có lỵ sở lúc đầu ở làng An Dương, hay huyện Nghi Dương có lỵ sở lúc đầu ở làng Nghi Dương, hay huyện Mè (Tiên Lãng) vì lỵ sở lúc đầu ở làng Mè (An Mỗ), hay huyện Đường An, Thủy Đường, Yên Hưng… vậy. Nếu cách nay chỉ cần một trăm năm thì hệ thống giao thông thủy bộ của nước ta đã hoàn toàn khác, nhược bằng cách nay gần một thiên niên kỷ thì hệ thống giao thông thủy bộ của huyện Tứ Kỳ nó ra sao, mà ta khó có thể hình dung ra nổi. Trong đó có tác giả thời Pháp thuộc giải thích là “tứ kỳ” là ngã tư đường bộ là hoàn toàn chưa có lô gic. Bởi vì thời phong kiến (trước năm 1888) ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, ông cha ta đều sử dụng đường thủy là chính và hầu hết các lỵ sở đều ở sát các bến sông, cửa biển. Tôi chỉ nêu một ví dụ ở Bát Trang xưa (tám làng mang tên Trang) thuộc huyện Kim Thành, sau này thuộc huyện An Lão, bên tả ngạn của sông Thái Bình, còn bên hữu ngạn là phía trên của huyện Thanh Hà, mà cách nay chừng 60 năm vẫn chưa có đường bộ từ huyện lỵ tới làng, mọi công dân đều sử dụng thuyền mủng là chính. Chính vì vậy cái tên Tứ Kỳ xuất phát từ ngã tư đường thủy, chứ không phải đường bộ. Ngoài ra ở huyện Tứ Kỳ có đồn Tam Kỳ (ngã 3 đường thủy) ở Quý Cao, hay ở rất nhiều tỉnh, thành ven biển có địa danh Tam Kỳ, nhưng tất cả đều là ngã ba đường thủy.
Theo dư địa chí thời đầu Nguyễn, thì huyện Tứ Kỳ có 13 tổng với 124 làng, giáp. Đến năm 1838 thì nhà Nguyễn cắt 5 tổng phía hữu ngạn sông Lục (Luộc) cùng với 3 tổng của huyện Vĩnh Lại để thành lập huyện thứ 19 của tỉnh Hải Dương mang tên Vĩnh Bảo. Chính vì lý do này mà thời nay bia đá Tiến sỹ tại Văn Miếu Mao Điền bị mắc khá nhiều lỗi, nhiều Tiến sỹ Nho học của huyện Vĩnh Bảo lại ghi của huyện Tứ Kỳ. Sau đây là một số câu ca dao tục ngữ thành ngữ cổ về huyện Tứ Kỳ:
1-
Phủ Thượng thành Bình
Phủ Hạ thành Ninh
Hai phủ Nam – Kinh
Giữ nguyên tên cổ
(Câu này ý nói vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), thì phủ Thượng Hồng đổi thành phủ Bình Giang (平江府), có nghĩa là “vùng sông nước êm đềm”. Còn phủ Hạ Hồng đổi thành phủ Ninh Giang (寕江府), có nghĩa là “vùng sông nước an toàn”, chứ ở đây không liên quan gì tới sông “Bình” hay sông “Ninh” nào cả. Còn phủ Nam Sách và phủ Kinh Môn vẫn giữ nguyên tên cũ. Rồi vào năm 1837 thì bốn huyện là Nghi Dương, An Dương, Kim Thành và An Lão tách từ phủ Kinh Môn ra thành lập phủ Kiến Thụy. Sau này tất cả 5 phủ trên trở thành đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, từ 2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
2-
Nam Chân
Bắc Dũng
Đông Kỳ
Tây Lạc.
(Thời phong kiến nước ta, tại Bắc Kỳ có bốn huyện được coi là trù phú nhất: Xứ Sơn Nam có huyện Chân Định thuộc phủ Kiến Xương, thời nay là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, từ 07/2025 thuộc tỉnh Hưng Yên; Xứ Kinh Bắc có huyện Yên Dũng thuộc phủ Lạng Giang, thời nay thuộc tỉnh Bắc Giang; Xứ Đông (Hải Dương cổ) có huyện Tứ Kỳ thuộc phủ Hạ Hồng, thời nay thuộc tỉnh Hải Dương, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng; Xứ Sơn Tây có huyện Yên Lạc thuộc phủ Tam Đới (Đái), thời nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, từ 07/2025 thuộc tỉnh Phú Thọ)
3-
Tam Kỳ Tứ Kỳ
Làm gì cũng thuận
(Ngạn ngữ cổ có câu: “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ”, nên ở khu vực ngã ba ngã tư sông này còn gì bằng. Tam Kỳ là ngã ba sông Thiệu Mỹ (từ 1890 là Thái Bình), thời nay không còn hoạt động nữa và sông Lục (từ 1890 là Luộc) thuộc làng Quý Cao, tổng An Đường, thời cách mạng thuộc xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, từ 2025 thuộc thành phố Hải Phòng; Còn làng Tứ Kỳ, tên Nôm là Cờ, xưa thuộc tổng Phan Xá, thời cách mạng thuộc xã Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
4-
Đầu Trắm, đuôi Mè, giữa khe Tam Lạng.
(Câu này nói về địa chí của vùng đất này. Tam Lâm (Phong Lâm, Trúc Lâm và giáp Văn Lâm), tên Nôm 3 làng này là Trắm, xưa thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc. Làng Đại Điền, tên Nôm là Mè, xưa thuộc tổng Đại Điền, huyện Thanh Hà, thời nay thuộc xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà. Còn Tam Lạng là Bình Lãng, trước kia gồm 3 giáp là: Lạng Khổng (Khổng Lý) ở phía Bắc; Lạng Thượng, gọi tắt là Thượng ở phía Tây và Lạng Đông, gọi tắt là Đông, xưa thuộc tổng Phan Xá, thời nay thuộc xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ bên hữu ngạn sông Thái Bình. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
5-
Chiếu nào bằng chiếu Ngưu Uyên
Vợ chưa tới liền “nhỏ” đã bật lên
(Làng Ngưu Uyên (còn tên gọi khác là Chu Uyên), tên Nôm là Vực, xưa thuộc tổng Toại An có nghề dệt chiếu khá nổi tiếng, thời nay thuộc khu vực xã Tứ Xuyên, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
6-
Làng Châu Khê tay vàng tay bạc
Cân Bái Dương giữ mực trung thành
Làng Cao thợ thiếc lọc tinh
Kim hoàn La Tỉnh nghề lành càng ghê.
(Làng Châu Khê, xưa thuộc tổng Tông Tranh, huyện Đường An, thời nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang, chuyên về nghề vàng bạc. Làng Bái Dương, xưa thuộc tổng Mao Điền, huyện Cẩm Giang (đến thời chúa Trịnh Giang nắm quyền trở đi đọc chệch là Cẩm Giàng, song trong văn viết vẫn ghi là Giang). Làng Yên (An) Lãng, tên Nôm là Cao, xưa thuộc tổng Yên Lãng, huyện Đông Triều, nay thuộc phường Yên Thọ, thành phố Đông Triều, Quảng Ninh, có nghề tinh chế kẽm trắng. Còn làng La Tỉnh, xưa thuộc tổng Toại An, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc xã Chí Minh, huyện Tứ Kỳ. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
7-
Quần cộc chân chì, không Tứ Kỳ thì cũng Gia Lộc.
Hay:
Mắt toét chân chì. Chẳng Tứ Kỳ cũng Gia Lộc
(Người dân Tứ Kỳ, Gia Lộc hay mặc quần cộc, nên chân đen và dùng nước ao tù nên bị chứng đau mắt hột. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng).
8-
Trai làng Rùa chưa cưa đã đổ
Gái làng Hới chưa gọi đã theo
(Làng Hà Lộ, tên Nôm là Rùa, xưa thuộc tổng Hà Lộ, nằm bên tả ngạn sông Hà Lộ, xưa thuộc tổng Hà Lộ, thời nay thuộc xã Hà Kỳ, huyện Tứ Kỳ. Còn làng Hà Hải, tên Nôm là Hới bên tả ngạn sông Hà Lộ và sông Luộc, xưa thuộc tổng Hà Lộ, ngày nay thuộc xã Hà Kỳ, huyện Tứ Kỳ. Từ 07/2025 tỉnh Hải Dương thuộc thành phố Hải Phòng)
9-
Thứ nhất cô Nghị Thanh Hoa
Thứ nhì Bủi Lạng, thứ ba Thạch Sùng.
(Những người giàu có nhất ở Việt Nam thời xưa được chúa Trịnh Sâm phong là “Phú gia địch quốc”. Bà Bủi hay Bổi ở giáp Lạng Đông (nên mới gọi là Bủi Lạng), gọi tắt là Đông, làng Bình Lãng, xưa thuộc tổng Phan Xá, thời nay thuộc xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ bên hữu ngạn sông Thái Bình, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng).
10-
Tứ Kỳ, Gia Lộc, ăn độc, ăn tham
Chí Linh, Kinh Môn, vừa ngang, vừa đểu.
(Theo sách “Đồng Khánh địa dư chí” thì dân Chí Linh gần núi có tính cách vũ dũng như các tổng Cổ Châu, Kiệt Đặc, Chi Ngại và Đông Đôi. Còn dân Kinh Môn sách này ghi có tiếng là vũ dũng hung hãn, đặc biệt hai tổng Yên Lưu và Dung Nham… Tất cả các địa danh trên trước tháng 07/2025 thuộc tỉnh Hải Dương, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
11-
Trai làng Ngái
Gái làng Sài.
(Giáp Mỹ Đức, tên Nôm là Ngái thuộc làng An Nghiệp, tổng Ngọc Lâm, thời nay thuộc xã Quảng Nghiệp, huyện Tứ Kỳ. Còn làng An Lại, tên Nôm là Sài, nằm ở phía Bắc của làng An Nghiệp, xưa thuộc tổng Ngọc Lâm, thời nay thuộc xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
12-
Trai Sài gái Mạc
(Làng An Lại, tên Nôm là Sài, nằm ở phía Bắc của làng An Nghiệp, xưa thuộc tổng Ngọc Lâm, thời nay thuộc xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỳ. Còn làng Mặc Xá, tên Nôm là Mạc, xưa thuộc tổng Mặc Xá, thời nay thuộc xã Quảng Nghiệp, huyện Tứ Kỳ. Câu ca này ca ngợi "trai tài gái sắc")
13-
Muốn ăn cơm trắng canh dền
Cùng anh làm rèn ở đất Kiêm Tân
(Giáp Kiêm Tân, tên Nôm là Gồm, xưa thuộc làng An Nghiệp, tổng Ngọc Lâm, huyện Tứ Kỳ, thời nay là thôn Kiêm Tân, xã Quảng Nghiệp, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
14-
Muốn ăn cơm trắng cá ngần
Đan lát sàng giần về đất An (Yên) Nhân
(Làng Yên (An) Nhân, xưa thuộc tổng Toại Yên, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
15-
Chơi với dân Bình Hàn
Không còn bát đàn mà ăn
(Làng Bình Hàn, xưa thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh đổi thành An Thổ, huyện Tứ Kỳ, thời cách mạng thuộc xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ, từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng).
16-
Dày dép Trúc Lâm
Thuốc nam Phạm Xá
(Làng Trúc Lâm, xưa thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng, thời nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc. Làng Phạm Xá, tổng Nguyễn Xá, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc xã Ngọc Sơn, thành phố Hải Dương. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
17-
Dứa Toại An
Cam Nhũ Tỉnh
(Làng Toại An, tên Nôm là Dừa, xưa thuộc tổng Toại An, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc khu vực chùa Toại thị trấn Tứ Kỳ. Làng Nhũ Tỉnh, xưa thuộc tổng Mắc Xá, thời nay thuộc khu vực chùa Nhũ thị trấn Tứ Kỳ. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
18-
Toại An nổi tiếng nhất vùng
Hàm Hy tập nập, Trúc Rừng đông vui
(Đây là câu ca nói về 3 chợ nổi tiếng của huyện Tứ Kỳ được quốc sử thời Nguyễn ghi. Làng Toại An, xưa thuộc tổng Toại An, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc khu vực chùa Toại thị trấn Tứ Kỳ. Làng Hàm Hy, xưa thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh đổi là An Thổ, thời nay thuộc xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ. Làng Trúc Lâm, nghĩa tiếng Hán là rừng trúc, nên dân gian gọi là Trúc Rừng, tên Nôm làng này là Trắm, xưa thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
19-
Thủy tổ giầy da
Từ ba làng Lâm
Hay:
Thủy tổ giầy da
Từ ba làng Rừng
(Làng Phong Lâm, Trúc Lâm, xưa thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng. Chính vì vậy mà sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi làm giầy dép ở Tứ Kỳ có Phong Lâm và Trúc Lâm. Giáp (xóm) Văn Lâm từ năm 1891 trở thành đơn vị hành chính cấp xã (làng) và cũng thuộc tổng Phan Xá, huyện Tứ Kỳ. Cổ xưa Phong Lâm, Trúc Lâm và Văn Lâm là một làng. Đến cuối thế kỷ XIX thì thành ba làng Lâm, nghĩa từ Lâm (林) là Rừng, nên dân gian gọi 3 làng Rừng là vậy, hay còn gọi là Tam Lâm, tên Nôm của làng này là Trắm. Còn việc học nghề làm giầy dép, thuộc da này từ Trung Hoa đã có gần nửa thiên niên kỷ, gống như nghề làm lược ở làng Vạc ở Bình Giang. Thời nay ba làng trên thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
20-
Nội Tạ độc tộc
Bảo Lộc nhiều dứa
Lắm lúa Tây Tạ
(Làng Nội Tạ, xưa thuộc tổng Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ, từ năm 1838 trở đi thuộc huyện Vĩnh Bảo, thời cách mạng thuộc xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Từ thời Tây Sơn (1789) trở về trước cả làng chỉ có duy nhất dòng họ Nguyễn, sau này các chi có tên đệm như Xuân, Trọng... và đời sau lại lấy tên đệm ra thành họ. Làng Bảo Lộc, sau đổi thành Quan Lộc, xưa thuộc tổng Chân Lại (đến thời vua Dục Đức đổi thành Tất Lại), huyện Tứ Kỳ, ngoài ra còn 2 làng có dứa ngon nữa là Chân Lại và Toại An, thời cách mạng làng Quan Lộc thuộc xã Tiên Đông, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương. Còn vào năm 1485 vua Lê Thánh Tông lập 43 sở đồn điền, trong đó có sở Tây Tạ gồm thôn Thượng Đồng thuộc tổng Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ, phủ Hạ Hồng và từ cuối thế kỷ XVIII thêm thôn Hạ Đồng nằm ở huyện Vĩnh Lại thuộc phủ Hạ Hồng, thời cách mạng thuộc xã An Hòa bên tả ngạn sông Hóa và Hạ Đồng thuộc xã Cộng Hiền, cách Thượng đồng chừng vài cây số. Đây là câu thành ngữ trong huyện Tứ Kỳ cổ. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
21-
Cụ Chánh tổng bên
Lấy thêm vợ bé
Làng Dí góp rượu
Làng Vội góp tiền
Làng Yên ghế bàn
Làng Gang dựng rạp
Làng Vực sắm đồ
Làng Dừa tám xoan
Làng Thàng cua cá
Làng Dáu rước dâu
Tám làng cùng nhau
Mỗi người một việc?
(Làng Đôn Giáo, tên Nôm là Dí, thời nay thuộc xã Cộng Lạc; Làng Kim Xuyên tên Nôm là Vội, thời nay thuộc xã Chí Minh; Làng La Tỉnh, tên Nôm là Yên, thời nay thuộc thị trấn Tứ Kỳ; Làng Quảng Xuyên, tên Nôm là Gang, thời nay thuộc xã Tứ Xuyên; Làng Ngưu Uyên, tên Nôm là Vực, thời nay thuộc xã Tứ Xuyên; Làng Toại An, tên Nôm là Dừa, thời nay thuộc thị trấn Tứ Kỳ; Làng La Giang, tên Nôm là Thàng, thời nay thuộc xã Văn Tố; Làng Đồng Lộc, tên Nôm là Dáu, thời nay thuộc xã Văn Tố. Tám làng trên, xưa thuộc tổng Toại An, huyện Tứ Kỳ. Tỉnh Hải Dương từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
22-
Tạ Xá tam thôn đình cộng bái
Tráng, Tè nhị xứ thổ tòng nguyên
Dịch nghĩa:
Xã Tạ Xá xưa có ba thôn cùng chung một đình thờ phụng
Hai làng Tráng và Tè có thủa cùng một gốc mà ra.
(Tạ Xá, tức làng Tạ, tên Nôm là Tè, về sau gọi địa danh bằng hai từ mới có làng Tạ Xá, xưa thuộc tổng Bắc Tạ, huyện Tứ Kỳ, vào cuối thời Mạc thì tách làm hai làng là Trung Tạ và Nội Tạ. Từ năm 1838 thuộc huyện Vĩnh Bảo. Rồi từ năm 1891 thì Trung Tạ tách làm hai làng là Tạ Ngoại và An Lãng, tên Nôm của An Lãng là Tráng. Thời cách mạng thuộc xã An Hòa, từ 2025 là xã Vĩnh Hòa. Trước năm 1937, 3 làng này có chung một đình gọi là đình Ba Xã được đặt ở khu đống Miễu giữa Nội Tạ và Tạ Ngoại, nay thuộc khu nghĩa trang dòng họ Nguyễn Xuân Nội Tạ)
23-
Mỹ Xá đền Nguyễn Công
Ngọc Lâm đền Sỹ Vương
An Đường đền Thần Tông
(Đây là tam từ (3 đền) nổi tiếng được triều đình nhà Nguyễn công nhận, giống như di tích cấp quốc gia ngày nay. Đền thờ thần Nguyễn Công ở làng Phạm Xá, tổng Mỹ Xá, thời nay thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ. Đền thờ thần Sỹ Vương ở làng An Nghiệp, tổng Ngọc Lâm, thời nay thuộc xã Dân Chủ. Còn đền thờ thần vua Lý Thần Tông ở làng Hàm Hy thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh kiêng húy đổi thành An Thổ, thời nay thuộc xã Cộng Lạc, còn đền thờ này gọi là Cõi theo tên Nôm của làng. Tất cả các địa danh trên từ 07/2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
24-
Hai trâu húc nhau
Gọi mau chống chọi
Làng Cõi cầm thang
Làng Hang cờ hội
Làng Dậu đánh trống
Làng Đống đánh chiêng
Kéo chúng ra riêng
Mỗi con một xó
(Làng Hàm Hy, tên Nôm là Cõi, xưa thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh kiêng húy đổi thành tổng An Thổ, thời nay thuộc xã Cộng Lạc. Làng An Hưng, tên Nôm là Hang, xưa thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh đổi thành tổng An Thổ, thời nay thuộc xã Quang Trung; Làng An Quý, tên Nôm là Dậu, xưa thuộc tổng An Đường, thời Đồng Khánh đổi thành tổng An Thổ, thời nay thuộc xã Nguyên Giáp; Làng An Lao, tên Nôm là Đống, thời nay thuộc xã An Thanh, huyện Tứ Kỳ. Từ 07/2025 toàn bộ thực địa tỉnh Hải Dương thuộc thành phố Hải Phòng)
25-
Hội làng tổng Bùi
Đông vui nhất xứ:
Làng Mũ áo khăn
Làng Giằn gạo thóc
Làng Dọc chiêng trống
Làng Rọng chả giò
Làng Sơ gà vịt
Làng Quýt rượu ngang
Làng Đoàn xôi oản
Làng Phạm hát chèo
Làng Leo bánh dẻo
Làng Nẹo khách mời
Làng Bùi chè xanh
Đồng thanh vang dội
Nhất hội tổng Bùi?
(Làng Mỹ Xá, tên Nôm là Bùi, xưa thuộc tổng Mỹ Xá, gọi tắt là tổng Bùi thuộc huyện Tứ Kỳ, thời nay thuộc xã Đại Đồng. Làng Ô Mễ, tên Nôm là Mũ, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Hưng Đạo. Làng Bỉnh Di, tên Nôm là Giằn, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Kỳ Sơn. Làng Lạc Dục, tên Nôm là Dọc, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Hưng Đạo. Làng Nghĩa Dũng, tên Nôm là Rọng, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Đại Đồng, từ 07/2025 là xã Đại Sơn. Làng Nghĩa Xá, tên Nôm là Sơ, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Đại Đồng, từ 07/2025 là xã Đại Sơn. Làng Phương Quất, tên Nôm là Quýt, xưa là làng Hương Quất, tổng Nguyễn Xá, đầu thế kỷ XX thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Kỳ Sơn. Làng Mỗ Đoạn, tên Nôm là Đoàn, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Kỳ Sơn. Làng Phạm Xá, gọi tắt là Phạm, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Ngọc Sơn. Làng Liêu Xá, tên Nôm là Leo, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Đại Đồng. Làng Xuân Nẻo, tên Nôm là Nẹo, xưa thuộc tổng Bùi, thời nay thuộc xã Hưng Đạo. Từ tháng 07/2025 tỉnh Hải Dương thuộc thành phố Hải Phòng)
NGỌC TÔ (Sưu tầm)
(Còn nữa)




















.jpg)





