CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN GIÁP SƠN XỨ ĐÔNG
CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN GIÁP SƠN XỨ ĐÔNG
.
Cũng giống như nhiều mảnh đất khác thuộc trấn Hải Dương, miền đất nơi đây thời cổ mang tên Giáp Sơn, hay còn tên khác là Hiệp Sơn. Từ thời thuộc Minh (1407 – 1427) về trước gọi là Thiểm Sơn. Từ niên hiệu Quang Thuận (1460 -1469) gọi là Giáp Sơn thuộc phủ Kinh Môn, thời cách mạng là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XX” thì huyện Giáp Sơn gồm 7 tổng (Hà Trường, Đích Sơn, Cổ Biện, Kính Chủ, Yên Lưu, Vụ Nông, Quỳnh Hoàng) với 62 làng, giáp.
Có một điều đặc biệt là Tuần Kiểm ty Liễu Viên huyện Giáp Sơn do nhà Minh đặt vào tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 8 (1410), điều này khẳng định lúc ấy làng chài Liễu Viên thuộc huyện Giáp Sơn, thực tế thời đó chưa có cộng đồng dân cư, giống như đảo Vũ Yên sau này. Sau đó mảnh đất Liễu Viên nơi đây “đất thơm cò đậu”, nhiều ngư dân từ nơi khác đổ về và mảnh đất nơi đây được phù sa bồi đắp thêm. Vào niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), thì huyện An Dương được thành lập và làng chài Liễu Viên thuộc huyện An Dương, phủ Kinh Môn. Vì làng chài này tên cổ là Liễu Viên (柳園), đến thời Trịnh Căn cuối thế kỷ XVII có người em là Tướng quân Trịnh Liễu, thì làng này đổi thành Da Viên (椰園). Như vậy thủ phủ của thành phố Hải Phòng đóng ở làng chài Gia Viên, huyện An Dương, nhưng trước đó là làng chài Liễu Viên, huyện Giáp Sơn. Tới cuối thế kỷ XIX do quy hoạch lại địa giới hành chính, người Pháp đã cắt tổng Vụ Nông và Quỳnh Hoàng của huyện Giáp Sơn cho huyện An Dương. Ngay sau đó tổng Thượng Chiếu và Hạ Chiếu bên hữu ngạn sông Giá khúc thượng lưu được cắt từ huyện Đông Triều về cho huyện Giáp Sơn.. Sau đây là một số câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ cổ về huyện Giáp Sơn, thời nay là huyện Kinh Môn:
1-
Phủ Thượng thành Bình
Phủ Hạ thành Ninh
Hai phủ Nam – Kinh
Giữ nguyên tên cổ
(Câu này ý nói vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), thì phủ Thượng Hồng đổi thành phủ Bình Giang (平江府), có nghĩa là “vùng sông nước êm đềm”, vì phủ lỵ này nằm ở làng Vạc, nên còn gọi là phủ Vạc. Còn phủ Hạ Hồng đổi thành phủ Ninh Giang (寕江府), có nghĩa là “vùng sông nước an toàn”, vì phủ lỵ đóng ở tổng Bất Bế, tên Nôm là Vé, nên còn gọi là phủ Vé. Chứ ở đây hai từ Bình Giang hay Ninh Giang không liên quan gì tới sông “Bình” hay sông “Ninh” nào cả. Còn phủ Nam Sách và phủ Kinh Môn vẫn giữ nguyên tên cổ. Rồi vào năm 1837, thì bốn huyện là Nghi Dương, An Dương, Kim Thành và An Lão được tách từ phủ Kinh Môn để thành lập phủ Kiến Thụy. Sau này tất cả 5 phủ trên trở thành đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, từ 2025 thuộc thành phố Hải Phòng)
2-
Núi Con Yên Tử
Yên Phụ núi Cha
(Đây là câu ca nói về hai núi. Núi Yên Tử ở huyện Đông Triều cao hơn núi Yên Phụ ở làng Kim Xuyên, huyện Giáp Sơn, nhưng núi Yên Phụ bề thế vững chãi thì hơn hẳn Yên Tử, cũng như người “Cha già” thì đi trước, người “Con khỏe” thì đi sau)
3-
Lý Thần Tông - Dương Nham
Trần Hoàng thân - Yên Phụ
(Núi ở làng Kính Chủ, xưa thuộc tổng Kính Chủ, thời Đồng Khánh đổi thành Dương Nham thuộc tổng Dương Nham, huyện Giáp Sơn. Thời nay thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương có đền thờ vua Lý Thần Tông khá nổi tiếng. Còn làng Kim Tuyền, thời Thiệu Trị đổi thành Kim Xuyên, xưa thuộc tổng Cổ Biện, huyện Giáp Sơn, đầu thế kỷ XX tổng Cổ Biện đổi thành Cổ Tân, thời cách mạng là xã Kim Xuyên, huyện Kinh Môn có đền thờ Hoàng thân nhà Trần ở trên núi Yên Phụ hay còn gọi là “núi Cha”)
4-
Giáp Sơn đá xanh
Kim Thành cua bể
(Huyện Giáp Sơn thuộc phủ Kinh Môn, từ thế kỷ XX là phủ Kinh Môn, sau này là huyện Kinh Môn. Còn huyện Kim Thành trước năm 1837 thuộc phủ Kinh Môn, từ năm 1837 về sau thuộc phủ Kiến Thụy)
5-
Văn miếu Hà Trường
Tướng quân làng Ngư
Thượng thư làng Dao
(Văn miếu phủ Kinh Môn ở giáp Đông làng Hà Trường, xưa thuộc tổng Hà Trường, huyện Giáp Sơn, thời nay thuộc xã Lạc Long, huyện Kinh Môn. Đền thờ Phạm Tướng quân ở làng Ngư Uyên, tổng Yên Lưu, huyện Giáp Sơn, từ thế kỷ XX thuộc tổng Yên Lưu, phủ Kinh Môn, nằm bên tả ngạn sông Kinh Môn. Thời cách mạng thuộc xã Long Xuyên, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Còn đền thờ Phạm Thượng thư (húy là Phạm Đình Trọng) ở làng Khinh Dao, tên Nôm là Dao, xưa thuộc tổng Vụ Nông, huyện Giáp Sơn. Từ thế kỷ XX tổng Vụ Nông được cắt về huyện An Dương, thời cách mạng thuộc xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng)
6-
“Ông Nông là chồng bà Mai”
(Câu ca nói về bến đò Nông ở ngã ba sông (Kinh Thầy, Kinh Môn và Cấm), ngoài ra còn có tên khác như Nống hay Tam Đa, bên tả ngạn sông Kinh Môn là huyện Giáp Sơn, sau này là huyện Kinh Môn, Hải Dương. Còn bên hữu ngạn là huyện Kim Thành, sau này là huyện An Dương, Hải Phòng. Còn làng Song Mai, tên Nôm là Mai, xưa thuộc tổng Song Mai, huyện Thủy Đường, thời Đồng Khánh đổi thành Thủy Nguyên. Từ hồi tổng Song Mai bên hữu ngạn sông Lạch Tray cắt về huyện An Dương, thì bến đò này mang tên Kiền Bái, gọi tắt là Kiền. Câu này ý nói số lượng người qua đò Nông vẫn hơn đò Mai và hai đò có mối quan hệ mật thiết với nhau vì là hai bến đỗ đò dọc từ sông Lục Đầu tới Hạ Lý, Hải Phòng)
7-
Cam ấp tân khai thiên thế giới
Lý triều cựu tích địa danh lam
Dịch nghĩa:
Ấp Cam mới mở trời thế giới
Triều Lý tự xưa đất danh lam
(Làng Cam Lộ, xưa thuộc tổng Quỳnh Hoàng, huyện Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, sau bị cắt về huyện An Dương, thời cách mạng là phường Hùng Vương quận Hồng Bàng)
8-
Gạch ngói Quỳnh Cư
Cầu mưa Vân Tra
(Làng Quỳnh Bảo, sau là Quỳnh Cư, xưa thuộc tổng Quỳnh Hoàng, huyện Giáp Sơn, sau này do quy hoạch thành phố Hải Phòng, người Pháp đã cắt tổng Quỳnh Hoàng từ huyện Giáp Sơn về huyện An Dương, thời cách mạng làng này thuộc phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Còn làng Vân Tra, xưa thuộc tổng Điều Yêu, huyện An Dương, thời cách mạng thuộc xã An Đồng huyện An Dương, Hải Phòng có đền Lôi Công khá nổi tiếng về cầu mưa, một trong “Thất Linh từ” của huyện An Dương cổ)
9-
Làng Ta đất xa tình gần
(Làng Trại Sơn, nằm ở bên tả ngạn Kinh Sài (từ năm 1890 là sông Kinh Thầy), xưa thuộc tổng Kính Chủ (sau là Dương Nham), huyện Giáp Sơn, mặc dù nằm ở tổng Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường, nhưng lại do huyện Giáp Sơn quản lý. Từ đầu thế kỷ XX được cắt về tổng Dưỡng Chính, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Đây là Căn cứ Trại Sơn do Đốc Tít xây dựng vào cuối thế kỷ XIX)
10-
Chó làng Dao cắn ra chữ
Chó An Thủy cắn ra hành lá
Chó Tống Xá cắn ra giò chả
(Làng Khinh Dao, tên Nôm là Dao, xưa thuộc tổng Vụ Nông, huyện Giáp Sơn. Từ thế kỷ XX tổng Vụ Nông được cắt về huyện An Dương, thời cách mạng thuộc xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng có 4 Tiến sỹ Nho học và khá nhiều Sinh đồ, Hương cống thời phong kiến. Làng An Thủy, xưa thuộc tổng Yên Lưu, huyện Giáp Sơn, thời nay thuộc xã Hiến Thành, huyện Kinh Môn, Hải Dương. Còn làng Tống Xá, xưa thuộc tổng Hà Trường, huyện Giáp Sơn, thời nay thuộc xã Thái Thịnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương)
11-
Bún bánh Tống Xá
Chạm đá Kính Chủ
(Làng Tống Xá, xưa thuộc tổng Hà Trường, huyện Giáp Sơn, thời nay thuộc xã Thái Thịnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương. Còn làng Kính Chủ, xưa thuộc tổng Kính Chủ, thời Đồng Khánh đổi thành Dương Nham thuộc tổng Dương Nham, huyện Giáp Sơn. Thời nay thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương)
12-
Chơi với dân Yên Lưu
Chẳng mất rìu cũng mất búa
(Tổng Yên Lưu, xưa gồm 14 làng thuộc huyện Giáp Sơn, nằm ở khu vực bên tả ngạn sông Kinh Môn và hữu ngạn sông Kinh Thầy, thời nay thuộc thị trấn Kinh Môn. Người dân tổng này khá khôn ngoan)
13-
Chơi với dân Kính Chủ
Chẳng mất mũ cũng mất nón
(Tổng Kính Chủ gồm 9 làng, thời Đồng Khánh đổi thành Dương Nham thuộc tổng Dương Nham, xưa thuộc huyện Giáp Sơn. Thời nay thuộc huyện Kinh Môn. Người dân tổng này khá khôn ngoan)
14-
Tôm đầm Vá
Cá đầm Ngư
(Làng Ngư Uyên, gọi tắt là Ngư, xưa thuộc tổng Yên Lưu, huyện Giáp Sơn, từ thế kỷ XX thuộc tổng Yên Lưu, phủ Kinh Môn, nằm bên tả ngạn sông Kinh Môn. Thời cách mạng thuộc xã Long Xuyên, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương)
15-
Trai Tam Đa chưa va đã đổ
Gái Kính Chủ chưa rủ đã theo
(Làng Tam Đa, xưa thuộc tổng Yên Lưu, huyện Giáp Sơn có thực địa ở ngã 3 sông Kinh Thầy, Kinh Môn và Cấm, nên các sách thời Nguyễn ghi là Ngã ba Tam Đa, thời nay thuộc xã Minh Hòa huyện Kinh Môn. Còn làng Kính Chủ, xưa thuộc tổng Kính Chủ, thời Đồng Khánh đổi thành Dương Nham thuộc tổng Dương Nham, huyện Giáp Sơn. Thời nay thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương)
(Còn nữa)
NGỌC TÔ (Sưu tầm)




















.jpg)





