CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN CÁT HẢI - HẢI PHÒNG
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ CỔ VỀ HUYỆN CÁT HẢI - HẢI PHÒNG
.
Khu vực đồng bằng của huyện Cát Hải có từ thời Hậu Lê (1428 - 1788), còn khu vực đồi núi có từ rất xa xưa. Trước đây miền đất này mang tên Chi Phong, đến thời Mạc đổi thành Hoa Phong, đến thời Thiệu Trị đổi thành Nghiêu Phong, nó bao gồm hầu hết các đảo của vịnh Hạ Long, Bái Tử Long… từ Cát Hải đến đảo Vĩnh Thực. Từ cuối thế kỷ XIX (1891), thì huyện này mang tên Cát Hải, nhưng diện tích thì bị thu gọn lại quá nhiều và thuộc tỉnh Quảng Yên, từ năm 1956 thì Cát Hải được cắt về thành phố Hải Phòng. Chúng tôi xin trích một số câu ca dao tục ngữ, thành ngữ nói về vùng đất này:
1-
Bảo An ngang hàng Bảo Thiếp
(Thời phong kiến ông cha ta dùng chữ Hán, nên từ bảo (堡) ở đây có nghĩa là pháo đài hay thành trì, còn chữ An là viết tắt của An Khoái, còn Thiếp là chữ viết tắt của Thiếp Hải. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì Pháo đài An (Yên) Khoái được đặt ở cách huyện lỵ Nghiêu Phong 4 dặm về phía Tây Nam, sau này thuộc làng Thiên Lộc, thời nay là Gia Lộc với chu vi 32 trượng, cao 6 thước, đắp năm Thiệu Trị 5 (1845) có 60 lính và 1 suất đội; Còn Pháo đài Thiếp Hải được đặt ở phía Đông cách huyện lỵ Nghiêu Phong 2 dặm, tức khu vực bến Cái Viềng bên hữu ngạn sông Đồn với chu vi 57 trượng 2 thước, cao 2 thước 9 tấc, đắp năm Minh Mạng thứ 21 (1840), có 30 thủy bộ binh, 1 suất đội, 1 thuyền lớn làm nhiệm vụ biên phòng)
2-
Bảo Ninh còn nịnh Bảo Tĩnh
(Đây là hai Pháo đài bên đảo Các Bà (từ đầu thế kỷ XX đổi là Cát Bà) mang tên: Ninh Hải được xây dựng ở Xuân Áng, tổng Hà Niên (còn gọi theo âm Nôm là Hà Sen) vào năm Minh Mạng thứ 20 (1839) với chu vi 77 trượng, cao 5 thước, có 150 lính, 1 suất đội và 2 thuyền lớn. Thời cách mạng (sau 1945) gọi là Thành Đồn - Xuân Đám. Còn Tĩnh Hải ở thôn Vụng, tổng Hà Liên, khu vực bến Cái Bèo thời nay. Có vụng lớn, tàu thuyền người Thanh (Hoa) qua lại liên tục với chu vi 134 trượng 8 thước, cao 5 thước, đắp năm Minh Mạng thứ 20 (1839), có 150 lính, 1 quản vệ và 3 thuyền lớn. Như vậy ta có thể hiểu tại Cát Hải có 2 pháo đài và bên Cát Bà cũng vậy có hai pháo đài)
3-
Mắm cò quăm, sú cò queo
Thắt lưng cho chặt mà theo anh về
Mắm bồ đề, sú bồ đề
Thắt lưng cho chặt mà về với anh
4-
Muốn ăn cơm trắng cá ngần
Vê tay cho dẻo mà lần lưới tơ
Muốn ăn cơm trắng cá vờ
Chắp gai cho nhỏ mà vơ lấy tiền
(Câu này giành cho nghề quay tơ kéo sợi ở làng Thiên Lộc, tổng An Khoái, nay thuộc thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải)
5-
Ngọc trai – Hoa Phong
Nhựa thông – Tiên Yên
(Ở huyện Hoa Phong, thời Thiệu Trị đổi là Nghiêu Phong, từ năm 1891 là Cát Hải có ngọc trai và ở châu Tiên Yên (khu vực Cẩm Phả) có nhựa thông khá nổi tiếng. Hai địa danh này xưa thuộc trấn Yên Quảng, từ thời Minh Mạng thuộc tỉnh Quảng Yên, thời nay thuộc thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh)
6-
Thứ nhất là mồ côi cha
Thứ nhì gõ núi, thứ ba lưới đành
Còn tiền đò Giá, đò Tranh
Hết tiền cắp rổ chạy quanh đò Hà
(Đò Giá ở làng Gia Luận, xưa thuộc tổng Hà Liên (gọi theo âm Nôm là Hà Sen), thời cách mạng thuộc xã Gia Luận, huyện Cát Hải. Đò Tranh là đò qua sông Tranh, sau do Nôm hóa gọi là Chanh. Con đò này trên tuyến đường bộ qua tổng Hà Nam, huyện Yên Hưng sang bên thành trấnYên Quảng, thời nay đò Chanh thuộc thành phố Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Còn đò Hà ở làng Phù Long, tổng Hà Liên bên tả ngạn sông Đồn thuộc huyện Cát Hải)
7-
Con ơi nhớ lấy lời cha
Gió nồm nước rặc chớ qua sông Đồn
(Đồn Giang, tức sông Đồn, có sách ghi là sông Đồng Bài, đây là khúc sông từ thượng nguồn đổ ra cửa biển và là đoạn giữa đảo Cát Hải và Cát Bà, bên hữu ngạn sông có đồn thu thuế và pháo đài Thiếp Hải, vì vậy nó mang tên Đồn. Còn bên tả ngạn sông là bến Cái Vang, mà gọi theo tên Nôm là Cái Viềng khá nổi tiếng)
8-
Nhà bà có chĩnh mắm to
Có cô gái rượu chửa cho lấy chồng
Ai hỏi thời cũng rằng không
Còn đợi ông lão rang long lắm tiền
9-
Rừng không hung bằng Gót
(Giáp Gót thuộc làng Đôn Lương, xưa thuộc tổng Đôn Lương, huyện Cát Hải, thời nay là bến phà Gót bên hữu ngạn sông, còn bên tả ngạn sông là bến Cái Vang, gọi theo tên Nôm là Cái Viềng. Còn bến Rừng bên tả ngạn sông, hay bến Đoan ở bên hữu ngạn sông Bạch Đằng, nối từ huyện Thủy Nguyên sang huyện Yên Hưng, nay là Quảng Yên. Hai bến đò này đều khá rộng với bề ngang chừng trên dưới một cây số và khi gió to sóng cả đi qua dễ gặp nguy hiểm, nhưng bến Gót ở ngay cửa biển nguy hiểm hơn)
10-
Ngọc châu - Đôn Lương
An hương - Vân Hải
(Đây là câu ca của huyện Nghiêu Phong, ở tổng Đôn Lương (thời nay là thị đảo Cát Hải) có ngọc châu được khai thác ở khu vực Đồng Bài. Còn ở tổng Vân Hải (thời nay là vực Quan Lạn, Quảng Ninh) có cây An tức hương, gọi tắt là An hương, nguyên liệu dùng làm hương thơm. Hai sản vật này nổi tiếng cả nước)
11-
Sấm nhẩy đầu Gôi
Mang nồi hứng nước
Sấm nhẩy Cái Đục
Xúc thóc ra phơi
(Câu này giống như “Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy. Cơn đằng Bắc đổ thóc ra phơi”. Đầu Gôi ở phía Đông đảo Cát Hải, còn Cái Dòng Đục, gọi tắt là Cái Đục thuộc làng Phù Long, tổng Hà Liên bên tả ngạn sông Đồn, nằm ở phía Bắc huyện lỵ Cát Hải)
12-
Trầm ngư Hoa Phong
Mật ong Hoành Bồ
(Trầm ngư là loại gỗ sinh ở ven biển vùng nước mặn, các loài cá dùng đuôi quẫy vào, người địa phương dùng làm vị thuốc chữa bệnh khí lam chướng khá hiệu nghiệm và dùng làm đồ đạc cũng tốt, được ghi ở Dư địa chí Nguyễn Trãi. Huyện Hoa Phong, đến thời Thiệu Trị vì kiêng húy đổi thành Nghiêu Phong, tới năm 1891 thành Cát Hải, nhưng diện tích bị thu hẹp nhiều. Còn mật ong ở huyện Hoành Bồ cùng phủ Hải Đông khá nổi tiếng)
13-
Chồng Lỗ Vỡ
Vợ Cái Nếp
(Đây là hai cây cầu gỗ bắc qua kênh Cái Tráp để nhân dân đi lại và nhằm triệt tiêu bọn phỉ thường xuyên đến quấy nhiễu cướp phá. Cầu Cái Nếp thuộc địa phận giáp An Tiếp, làng Phong Niên, tổng An Khoái, huyện Nghiêu Phong, thời nay thuộc xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải. Còn ngược lên phía trên một đoạn là cầu Lỗ Vỡ thuộc làng Lưu Khê, tổng Hà Nam, huyện Yên Hưng, thời nay thuộc thành phố Quảng Yên. Hai cầu này còn bổ trợ cho nhau và được tỉnh Quảng Yên thời đó trích xuất tiền kho mua vật liệu dựng vào niên hiệu Tự Đức thứ 26, tức năm 1873).
14-
Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét
(Làng Yên Sở, tên Nôm là La, xưa thuộc tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, nay thuộc Hoài Đức, Hà Nội. Làng Yên Lãng, tên Nôm là Láng, xưa thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hà Đông, thời nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Làng Thổ Hoàng, tên Nôm là Báng, xưa thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng, thời nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Làng Yên Nhân, tên Nôm là Bần, xưa thuộc tổng Yên Nhân, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, thời nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Còn thương hiệu nước mắm Vạn Vân được chế biến tại làng Hòa Hy, tổng Đôn Lương, huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên, thời nay thuộc thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, có đại diện tại Hà Nội và thương hiệu Vạn Vân có từ đầu thế kỷ XX, sau này đã chuyển thành Cát Hải. Đầm Sét thuộc giáp (xóm) Nhị, xưa thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng, thời nay thuộc Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội. Ngày nay một số nơi nhận đầm Sét như ở Thanh Hóa hay nhiều tỉnh thành khác là chưa chính xác, vì câu này nó chỉ loanh quanh ở khu vực Hà Nội mà thôi)
15-
Cửa Suốt “bố ruột” Bồ Câu
(Quan sở Bồ Câu ở hải phận xã Phong Niên, xưa thuộc tổng An Khoái, thời nay thuộc phía Đông xã Hoàng Châu, huyện Cát Hải là cửa nhánh của Quan ty Cửa Suốt tỉnh. Ta có thể hiểu đây là cơ quan thu thuế và kiểm tra, quản lý đường thủy của huyện Cát Hải, còn Cửa Suốt tỉnh Quảng Yên đóng ở huyện Yên Hưng, không phải Cửa Suốt ở Cửa Ông)
16-
Rừng xanh Các Bà
Thuộc Gia Luận cổ
Còn phố Cát Bà
Tách ra từ Nang
(Làng Gia Luận, xưa thuộc tổng Hà Liên, huyện Hoa Phong, trấn Yên Quảng với diện tích khá lớn, chiếm tới hơn một nửa đảo Các Bà, từ đầu thế kỷ XX đổi thành Cát Bà. Thực địa làng này có khu rừng nguyên sinh rộng lớn, nay là “Vườn Quốc gia Cát Bà”. Từ năm 1891 thì tổng Hà Liên (gọi theo tên Nôm là Hà Sen) có 6 đơn vị hành chính cấp xã (làng) với 25 hộ dân, trong đó có phố Cát Bà. Còn làng Chân Châu, tên Nôm là Nang, xưa thuộc tổng Hà Sen, tới thời Dục Đức (ông vua 3 ngày), vì kiêng húy đổi thành Trân Châu và phố Cát Bà, nay là thị trấn Cát Bà là một phần thực địa của làng Nang cũ)
17-
Cái Vang chịu hàng Dòng Đục
(Cái Vang, gọi theo tên Nôm là Cái Viềng ở bên tả ngạn sông Đồn. Còn Cái Dòng Đục, gọi tắt là Dòng Đục nằm ở phía Tây của Cái Viềng, hai địa danh này thuộc làng Phú Long, tổng Hà Liên (Sen), huyện Nghiêu Phong. Thời cách mạng thuộc xã Phù Long, huyện Cát Hải)
18-
Cửa Giá bằng má cửa Đôn
(Cửa biển Gia Luận, mang tên là cửa Giá thuộc làng Gia Luận, tổng Hà Liên (Sen) thời nay thuộc xã Gia Luận, huyện Cát Hải. Còn cửa biển Đôn Lương, gọi tắt là cửa Đôn, trong văn viết thường ghi là cửa biển Nghiêu Phong thuộc làng Đôn Lương, tổng Đôn Lương, huyện Cát Hải. Với quy mô hay độ hoành tráng thì cửa Giá chỉ bằng một phần nhỏ của cửa biển Đôn Lương)
19-
Mắm chắt Hòa Hy
Lưới tơ Thiên Lộc
Muối hạt An Phong
Bán buôn An Khoái
(Các làng Hòa Hy, Thiên Lộc sau này là Gia Lộc, An Phong sau là Văn Phong và An Khoái, xưa thuộc tổng An Khoái, thời Đồng Khánh đổi là Đôn Lương, thời cách mạng thuộc xã Nghĩa Lộ và thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải)
20-
Anh cả Cái Vỡ
Màu mỡ Cái Cụ
Thích dụ Cái Tráp
(Theo bản đồ huyện Nghiêu Phong thời Đồng Khánh (1886), thì đảo Cát Hải gồm ba đảo, được ngăn theo ba kênh chạy từ sông Đồn phía Bắc về phía Nam là biển, theo thứ tự từ Nam lên Bắc là: Cái Vỡ (gồm 6 làng: Hoàng Châu, Văn Chấn, Thiên Lộc, Hòa Hy, Đôn Lương, Lục Độ); Cái Cụ (gồm 6 xóm, làng: Nghĩa Lộ, Trúc Kỳ, Phong Niên, An Tiếp, Đông Lâm và Động Bài) và Cái Tráp là đảo với rừng ngập mặn, thời nay thuộc xã Nghĩa Lộ và Đồng Bài, nay là khu vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng do tập đoàn Vinfast đầu tư)
21-
Bồng bềnh Cái Ruông
Thả buông Cái Rút
Hun hút Cái Tuần
Tần ngần Cái Ba Cô
(Cái Ruông, Cái Rút xưa thuộc làng An Phong, thời nay thuộc xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải; Cái Tuần (hay Tần), xưa thuộc làng Đôn Lương, thời nay thuộc thị trấn Cát Hải; Cái Ba Cô, xưa thuộc làng Đồng Bài, thời nay thuộc xã Đồng Bài, huyện Cát Hải)
22-
Đò đưa Vạn Cảnh
Sóng sánh Vân Đồn
Bồn chồn Chàng Sơn
Bông lơn Gà Chọi
Bơi lội Cát Vàng
Bàng nhàng Vạn La
Xuề xòa Cành Độc
Hồng hộc Đông Ma
Rên la như Mèo
Cuồng yêu Áng Dài
Lai rai Vạn Mâu
Mau mau Các Bà
Rề rà Các Ông
Lòng thòng Ba Cái
(Đây là các đảo chính tiêu biểu của huyện Nghiêu Phong thời Nguyễn: Vạn Cảnh ở hải phận xã Quan Lạn, tổng Vân Hải; Vân Đồn ở hải phận tổng Vân Hải; Chàng Sơn ở hải phận xã Quan Lạn, tổng Vân Hải, thời Pháp thuộc gọi là Cô Tô; Gà Chọi ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên; Cát Vàng ở hải phận xã Quan Lạn, tổng Vân Hải; Vạn La ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên; Cành Độc ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên, có hang chứa cả nghìn người; Đông Ma ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên, đảo này có chín ngọn; Mèo ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên, chơ vơ giữa biển giống con mèo; Áng Dài ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên, núi đá liền nhau có Cái Vang, Cái Dòng Đục bao quanh; Vạn La, phía Tây là Vạn Mâu ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên; Các Bà, Các Ông ở hải phận xã Chân Châu, tổng Hà Liên, từ đầu thế kỷ XX đổi thành Cát Bà và Cát Ông; Còn Ba Cái ở hải phận xã Phù Long, tổng Hà Liên, gần đảo Cành Độc, có động không rộng lắm với nhiều thạch nhũ)
23-
Thượng chí giáp Định Vũ
Hạ chí giáp Vĩnh Thực
(Đây là dư địa chí huyện Nghiêu Phong thời Đồng Khánh (1886), phía Tây huyện này giáp đảo Định Vũ, huyện An Dương, thời nay là phường Đông Hải II, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Còn phía Đông huyện này giáp đảo Vĩnh Thực cùng tỉnh Quảng Yên, thời nay là xã Vĩnh Thực, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh)
(Còn nữa)
NGỌC TÔ (Sưu tầm)




















.jpg)





